Return to site

QUY TRÌNH LÀM MỘT BÀI IELTS READING MÀ EM PHẢI ÁP DỤNG NẾU MUỐN ĐẠT 8.0 IELTS READING!

· Reading

Hôm nay, IELTS TUTOR giới thiệu đến các em từng bước trong quá trình làm bài IELTS READING mà các em nên áp dụng, kèm thêm hướng dẫn chi tiết một bài IELTS READING mẫu để các em có thêm cơ sở áp dụng vào các bài IELTS READING khác trong lúc luyện tập luôn nhé!

I. QUY TRÌNH LÀM MỘT BÀI IELTS READING

Bước 1: Đọc kĩ câu hỏi trước khi đọc bài đọc, xác định giới hạn từ & Xác định keywords

Đọc câu hỏi trước sẽ giúp bạn có một cái nhìn tổng quan về bài đọc. Nếu bạn có một cái nhìn khái quát trước, việc bạn tiếp nhận nội dung về bài đọc sẽ đơn giản hơn nhiều. Xét cho cùng, trong IELTS, việc các bạn trả lời chính xác nhiều câu hỏi sẽ quan trọng hơn bạn có tiếp thu được nhiều kiến thức trong bài đọc, mặc dù nguồn kiến thức của bài đọc là rất khổng lồ và hữu ích phải không nào. Do vậy, việc đọc câu hỏi trước càng trở nên quan trọng hơn khi chúng giúp bạn đọc, chọn lọc nội dung, bỏ qua những phần nội dung không quan trọng, không có trọng tâm, chỉ đọc những nội dung phục vụ trả lời cho câu hỏi. Đây chính là ưu thế khoanh – vùng – nội – dung mà việc đọc câu hỏi trước mang lại cho bạn.

Về giới hạn từ, nếu câu hỏi có cho "NO MORE THAN 3 WORDS" thì bắt buộc bạn phải điền từ 3 từ trở xuống, nếu điền 4 từ thì coi như là sai!

Phải gạch chân KEYWORDS, Khi bạn đọc câu hỏi mà không gạch chân lại những từ quan trọng, việc bạn quên luôn câu hỏi đó yêu cầu gì sẽ thường xuyên xảy ra đó. Bởi, xung quanh một câu hỏi luôn chứa đựng những thông tin gây nhiễu hay không quan trọng, làm ảnh hưởng đến việc ghi nhớ của bạn. Do đó, khi đã gạch được keywords, đầu óc bạn sẽ nhẹ đi rất nhiều vì đã vứt bỏ được những từ không quan trọng và chỉ tập trung vào trọng tâm yêu cầu của đề bài và đi tìm đáp án.

Bước 2: Phải nắm nội dung cốt lõi của câu hỏi mà đề đã cho để có thể định vị phạm vi trả lời câu hỏi đó trong bài. Không cần thiết phải hiểu mọi từ, mọi ngóc ngách trong IELTS READING

Sau khi đã highlight keywords quan trọng trong câu hỏi, bắt buộc bạn phải đọc bài sơ qua, và phải spot được đâu là đoạn khoanh vùng sẽ trả lời câu hỏi đó. Bạn phải nắm vững quy luật của IELTS READING là câu trả lời của câu hỏi sẽ theo thứ tự của câu hỏi, tức là đáp án của câu 1 sẽ nằm trên đáp án câu 2, đáp án câu 3 sẽ nằm dưới đáp án câu 2. Điều này sẽ giúp bạn rất nhiều trong việc khoanh vùng đáp án nhé!

Chú ý là các em nên phân tích và highlight keywords của trọn bộ câu hỏi chứ không nên tách riêng lẻ từng phần câu hỏi nhé! Lí do là vì mặc dù trong 1 bộ câu hỏi nhỏ từng dạng ví dụ bài mẫu phía dưới có 2 bộ câu hỏi nhỏ là Questions 1–7 kiểm tra các em về Yes No No Not Given, Questions 8–13 kiểm tra các em về kĩ năng làm bài dạng Multiple choice, trong một bộ câu hỏi của từng dạng thứ tự đáp án trong bài passage sẽ đi theo thứ tự của câu hỏi, nhưng mà chưa chắc thứ tự của cả bộ câu hỏi 1-7 sẽ nằm trên bộ câu hỏi 8-13.

Tức là, chắc chắn trong Questions 1–7 câu 1 sẽ nằm trên câu 2, câu 2 sẽ nằm trên câu 3, câu 4 sẽ nằm trên câu 7. Tương tự ở Questions 8–13 câu 8 sẽ nằm đầu tiên, sau đó đến câu số 9, câu số 13 sẽ nằm phía cuối cùng

Tuy nhiên, chưa chắc Questions 1–7 sẽ hoàn toàn nằm trên Questions 8–13. Có khả năng là Questions 1–7 sẽ nằm phía dưới cùng, và đáo Questions 8–13 lên đâù tiên nên các em phải có khả năng Skim xem câu nào ở đoạn nào nhé!

Vậy nên khi các em đọc câu hỏi, và highlight keywords các em nhất định phải highlight và đọc siêu siêu kĩ toàn bộ các câu hỏi, chứ đừng đọc lẻ tẻ từng câu nhé!

Bước 3: Đọc Tittle, và các headline của từng đoạn để nắm sơ qua nội dung chính của bài

Cũng như trong IELTS Writing, một đoạn passage của IELTS READING sẽ tuân theo bố cục như sau:

  • Câu main idea 
  • Câu supporting idea 
  • Câu ví dụ 
Nên nếu các em đọc kĩ tittle, subtittle thì các em cũng đã hiểu sơ qua nội dung chính của đoạn passage rồi

Bước 4: Đọc bài reading từ trên xuống dưới, vừa đọc vừa dò xem đoạn văn đó sẽ có chứa đáp án của câu nào & Gạch chân những ý quan trọng

Trong bước 4 này, 1 kĩ năng quan trọng mà bạn cần phải có là SKIMMING

  • Skimming là gì? Là đọc lướt nhanh nội dung của một bài đọc trong thời gian ngắn để nắm đươc ý chính cũng như cách bố cục thông tin trong bài. kỹ năng skimming giúp bạn nắm được nội dung chính của bài một cách nhanh nhất trong khi để trả lời câu hỏi bạn cần những chi tiết nhỏ trong bài đọc.
  • Các bước cần phải có trong skimming: 
  1. Đọc phần title của bài viết cũng như subtitle để tìm ra được nội dung của bài đọc. Subtitle chính là phần in nghiêng dưới tiêu đề, nó nằm ngay đầu đoạn text.
  2. Đọc đoạn mở đầu đến đoạn cuối cùng để xác định được nội dung chính trong bài viết. Đọc các câu chủ đề của từng đoạn, các câu chủ đề này thường là câu đầu tiên của bài text. Nhưng đôi khi đoạn văn lại được mở đầu bằng câu hỏi hay câu dẫn dắt, thì khi đó topic sentence lại thường nằm cuối đoạn text.
  3. Nếu có tranh hay sơ đồ trong bài đọc, hãy lướt thật nhanh qua bức tranh đó.
  4. Khi gặp từ mới mà nó không nằm ở đoạn có chứa câu trả lời cần tìm, đoán nghĩa rất nhanh theo ngữ cảnh và nhanh chóng bỏ qua. 
Gạch chân các ý quan trọng

Khi đọc, đừng bao giờ quên gạch chân các ý quan trọng. Một bài đọc dài khoảng hai trang giấy và chằng chịt các thông tin từ thông tin bên lề đến thông tin quan trọng, xen kẽ vào nhau. Nếu bạn quên không gạch chân các ý chính, sau khi bạn đọc xong, bạn có thể bị lạc trong khi tìm kiếm lại các ý chính đó. Mắc kẹt giữa các thông tin vô cùng tốn thời gian phải không nào?

Thường thì mình sẽ chú ý nhiều hơn đến việc gạch các thông tin trả lời câu hỏi trong bài Reading để nhắc nhở mình rằng những thông tin đó đã được sử dụng trả lời câu hỏi nào. Việc gạch chân này có hai mặt lợi:

  • Khi bạn muốn check lại đáp án của một câu hỏi, bạn không cần phải scan từ đầu mà chỉ nhìn lại phần mình đã gạch chân và focus vào thông tin liên quan đến câu hỏi đó.
  • Bạn biết rằng thông tin được gạch chân đã được sử dụng và thường mỗi mẩu thông tin như vậy chỉ trả lời cho 1 câu hỏi.

Bước 5: Trong lúc đọc, nếu nghi ngờ đoạn văn đó có chứa đáp án của câu nào thì quay lại bảng câu hỏi đọc lại câu hỏi để khoanh vùng được câu trả lời. Phải Khoanh vùng được đáp án câu trả lời

Trong bước 5 này, kĩ năng bạn cần phải có là SCANNING

Đó là kỹ năng khi bạn nhìn vào một từ hay cụm từ đặc biệt, bạn sẽ có thể dễ dàng tìm kiếm được từ hoặc cụm từ đó trong bài đọc của mình

Kĩ năng Scanning giúp bạn giải quyết vấn đề sau:

Dù rằng các bạn đã đọc lướt qua bài đọc 1 lượt nhưng khi tìm thông tin để trả lời câu hỏi, rất nhiều câu bạn ý không biết thông tin để trả lời đang nằm ở vị trí nào.

  • Scanning là gì: 

    Là lướt thật nhanh bài đọc mà không quan tâm đến nội dung của bài đọc là gì. Thay vào đó, mục đích chính của việc scan là tìm những keywords chính trong câu hỏi để từ đó bạn có thể tìm ra câu trả lời tương ứng cho nó.

    Scanning được áp dụng khi cần tìm kiếm các dữ liệu trong bài viết như tên riêng, số liệu, ngày tháng, hoặc các cụm từ mà không cần nắm được nội dung của bài text. Đó đồng thời cũng là những thông tin dễ dàng tìm kiếm nhất để giúp người học định vị nhanh chóng vị trí có chứa đáp án cho câu hỏi.

Các bước cần có khi scanning?

Bước 1: Đọc câu hỏi và xác định từ keywords chính trong câu hỏi – chính là từ mà các bạn sẽ sử dụng để scan nhanh, thường là tên riêng, số liệu, ngày tháng, các từ chuyên ngành….

Bước 2: Luôn luôn ghi nhớ trong đầu rằng bạn đang tìm kiếm thông tin gì để não bộ và mắt của bạn tập trung vào đúng thông tin đó.

Bước 3: Bạn cần xác định xem thông tin đó có trong đoạn nào của bài viết theo trí nhớ có được sau phần skimming và “quét” một lượt để định vị chính xác vị trí của thông tin cần tìm. Thông tin có thể được sắp xếp theo thứ tự thời gian vì vậy bạn có thể căn cứ vào điều này để xác định dễ dàng hơn nếu đang scan thông tin liên quan đến ngày tháng năm.

Bước 4: Dừng lại trước thông tin cần tìm và đọc những câu có liên quan đến thông tin đó để hiểu được thông tin mà tác giả chia sẻ với người đọc và trả lời câu hỏi.

Bước 6: Sau khi đã khoanh vùng được đáp án nằm ở đoạn nào, đọc SIÊU SIÊU KĨ đoạn đó để tìm ra đáp án

Sau khi bạn đã dùng Skimming để hiểu nội dung chính của bài, Scanning để định vị 1 đoạn văn chứa đáp án của câu hỏi nào đó, bây giờ để bạn tìm ra được đáp án đúng, bạn phải đọc siêu siêu kĩ bài text reading đoạn mà bạn đã khoanh vùng đó mục đích là để tìm cho ra đáp án!

Bước 7: Nếu câu nào làm không được thì BỎ QUA, Không dành quá nhiều thời gian cho 1 câu hỏi

Nếu đã 2 phút đồng hồ, mình chưa tìm ra câu trả lời cho một câu hỏi nào đó, hãy bỏ qua và chúng ta sẽ quay trở lại với câu hỏi này vào cuối giờ, hoặc có thể là đánh lụi luôn chứ đừng làm đi làm lại 1 câu nhé! Thực chất là trong đề thi IELTS, có một số câu hỏi rất dễ đọc là làm được luôn, nếu bạn dành quá nhiều thời gian cho câu khó để đến cuối giờ không có đủ thời gian cho câu hỏi dễ thì rất phí nhé!

Bước 8: Luôn mặc định làm tới đâu chuyển đáp án vào tờ answer sheet đến đó, không đợi tới hết giờ rồi mới chuyển. Hoặc là tới bộ câu hỏi nào đó là phải chuyển đáp án!

Bạn nên nhớ, khác với IELTS LISTENING sẽ có hẳn 10 phút cuối cho bạn chuyển đáp án vào tờ answer sheet, IELTS READING 1 hour sẽ bao gồm làm và chuyển đáp án, tức là 1 hour bạn sẽ nộp bài cho giám khảo rồi. Nên lời khuyên của IELTS TUTOR dành cho bạn là bắt buộc phải làm được câu nào chuyển đáp án câu đó vào Answer Sheet nhé, hoặc ít nhất làm 1 dạng câu hỏi ví dụ như Yes No Not Given xong thì nhất định là phải chuyển hết đáp án phần đó vào!

Bước 9: Luôn dành thời gian check lại các đáp án

Bạn phải hiểu rằng examiner chỉ cầm tờ answer sheet của bạn lên và chấm, không chấm đề của bạn hay gì gì cả, nên nếu đáp án trong tờ answer sheet của bạn sai hay viết thiếu, viết nhầm, đọc không ra thì đồng nghĩa với mất điểm câu đó. Nên luôn luôn dành 5 phút check lại tờ Answer sheet của mình, xem có bị sót câu nào không, có chép đáp án bị nhảy câu không, hay điền thiếu đáp án câu nào không

Bạn cần check lại:

  • Đáp án có đúng câu không, đảm bảo không chép nhầm hay nhảy câu. Lỗi sai năng nhất là rơi vào trường hợp viết sai vị trí đáp án. Bởi chỉ cần các bạn điền sai thứ tự một câu trong answer sheet, các câu tiếp theo cứ thế bị lệch ra khỏi đường ray, và cứ thế, câu hỏi một đằng nhưng đáp án lại một nẻo.
  • Check số ít, số nhiều, loại từ danh, tính, động, trạng ra sao để xem từ mình chọn có thích hợp với ngữ cảnh bài đọc hay không, đáp án có hợp lý không

Bước 10: Sau khi đã làm xong bài, bắt buộc là phải note lại từ mới & xem đi xem lại những từ đó thường xuyên

Lưu ý:

  • Luôn nhớ, thứ tự của của câu hỏi trong 1 bài IELTS READING là sẽ theo thứ tự từ trên xuống dưới. Tức là đáp án câu 1 sẽ nằm trên đáp án câu 2, câu 3. Vậy nên nếu các em đã tìm được và khoanh vùng đáp án câu 3 mà vẫn chưa tìm ra đáp án câu 1 thì các em phải hiểu đáp án câu 1 nó sẽ phải nằm trên đáp án câu 3 nhé!  
  • Trong đầu, luôn phải tự nhủ, IELTS READING là một cuộc chiến của Synonym, Paraphrase và Từ trái nghĩa, tức là luôn check xem những từ trong bài đọc nó có phải là từ đã được paraphrase lại trong bộ câu hỏi hay không
  • Phải nắm kĩ quy trình tạo ra 1 bài Reading IELTS là như thế nào: Người ra đề sẽ chọn lấy một bải đọc ngắn bất kì từ các nguồn họ cảm thấy phù hợp rồi sau đó sẽ dựa vào đó cho ra những câu hỏi. Nếu chỉ đơn giản sao chép từ đầu tới cuối thì thật quá dễ dàng cho các thí sinh rồi. Do vậy, người ta phải dùng những từ đồng nghĩa và cấu trúc câu tương đương rồi thay thế chúng cho form cũ để nâng cấp độ khó của đề thi. Thì thế chúng ta mới có thẻ bắt gặp hàng loạt các câu hỏi “khó nhằn” như mỗi lần luyện đề hay làm bài thi  chứ.           

Luyện tập đề IELTS READING

READING PASSAGE 1

You should spend about 20 minutes on Questions 1–13, which are based on Reading Passage 1 below.

MAKING TIME FOR SCIENCE

Chronobiology might sound a little futuristic – like something from a science fiction novel, perhaps – but it’s actually a field of study that concerns one of the oldest processes life on this planet has ever known: short-term rhythms of time and their effect on flora and fauna.

This can take many forms. Marine life, for example, is influenced by tidal patterns. Animals tend to be active or inactive depending on the position of the sun or moon. Numerous creatures, humans included, are largely diurnal – that is, they like to come out during the hours of sunlight. Nocturnal animals, such as bats and possums, prefer to forage by night. A third group are known as crepuscular: they thrive in the lowlight of dawn and dusk and remain inactive at other hours.

When it comes to humans, chronobiologists are interested in what is known as the circadian rhythm. This is the complete cycle our bodies are naturally geared to undergo within the passage of a twenty-four hour day. Aside from sleeping at night and waking during the day, each cycle involves many other factors such as changes in blood pressure and body temperature. Not everyone has an identical circadian rhythm. ‘Night people’, for example, often describe how they find it very hard to operate during the morning, but become alert and focused by evening. This is a benign variation within circadian rhythms known as a chronotype.

Scientists have limited abilities to create durable modifications of chronobiological demands. Recent therapeutic developments 3 respect; studies demonstrate that vegetables grown in season and ripened on the tree are far higher in essential nutrients than those grown in greenhouses and ripened by laser.

Knowledge of chronobiological patterns can have many pragmatic implications for our day-to-day lives. While contemporary living can sometimes appear to subjugate biology – after all, who needs circadian rhythms when we have caffeine pills, energy drinks, shift work and cities that never sleep? – keeping in synch with our body clock is important.

The average urban resident, for example, rouses at the eye-blearing time of 6.04 a.m., which researchers believe to be far too early. One study found that even rising at 7.00 a.m. has deleterious effects on health unless exercise is performed for 30 minutes afterward. The optimum moment has been whittled down to 7.22 a.m.; muscle aches, headaches and moodiness were reported to be lowest by participants in the study who awoke then.

Once you’re up and ready to go, what then? If you’re trying to shed some extra pounds, dieticians are adamant: never skip breakfast. This disorients your circadian rhythm and puts your body in starvation mode. The recommended course of action is to follow an intense workout with a carbohydrate-rich breakfast; the other way round and weight loss results are not as pronounced.

Morning is also great for breaking out the vitamins. Supplement absorption by the body is not temporal-dependent, but naturopath Pam Stone notes that the extra boost at breakfast helps us get energised for the day ahead. For improved absorption, Stone suggests pairing supplements with a food in which they are soluble and steering clear of caffeinated beverages. Finally, Stone warns to take care with storage; high potency is best for absorption, and warmth and humidity are known to deplete the potency of a supplement.

After-dinner espressos are becoming more of a tradition – we have the Italians to thank for that – but to prepare for a good night’s sleep we are better off putting the brakes on caffeine consumption as early as 3 p.m. With a seven hour half-life, a cup of coffee containing 90 mg of caffeine taken at this hour could still leave 45 mg of caffeine in your nervous system at ten o’clock that evening. It is essential that, by the time you are ready to sleep, your body is rid of all traces.

Evenings are important for winding down before sleep; however, dietician Geraldine Georgeou warns that an after-five carbohydrate-fast is more cultural myth than chronobiological demand. This will deprive your body of vital energy needs. Overloading your gut could lead to indigestion, though. Our digestive tracts do not shut down for the night entirely, but their work slows to a crawl as our bodies prepare for sleep. Consuming a modest snack should be entirely sufficient.

Questions 1–7

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 1? In boxes 1–7 on your answer sheet, write

TRUE if the statement agrees with the information

FALSE if the statement contradicts the information

NOT GIVEN if there is no information on this

1 Chronobiology is the study of how living things have evolved over time.

2 The rise and fall of sea levels affects how sea creatures behave.

3 Most animals are active during the daytime.

4 Circadian rhythms identify how we do different things on different days.

5 A ‘night person’ can still have a healthy circadian rhythm.

6 New therapies can permanently change circadian rhythms without causing harm.

7 Naturally-produced vegetables have more nutritional value.

Questions 8–13 

Choose the correct letter, A, B, C or D.

Write the correct letter in boxes 8–13 on your answer sheet.

8 What did researchers identify as the ideal time to wake up in the morning?

A 6.04

B 7.00

C 7.22

D 7.30

9 In order to lose weight, we should

A avoid eating breakfast

B eat a low carbohydrate breakfast

C exercise before breakfast

D exercise after breakfast

10 Which is NOT mentioned as a way to improve supplement absorption?

A avoiding drinks containing caffeine while taking supplements

B taking supplements at breakfast

C taking supplements with foods that can dissolve them

D storing supplements in a cool, dry environment

11 The best time to stop drinking coffee is

A mid-afternoon

B 10 p.m.

C only when feeling anxious

D after dinner

12 In the evening, we should

A stay away from carbohydrates

B stop exercising

C eat as much as possible

D eat a light meal

13 Which of the following phrases best describes the main aim of Reading Passage 1?

A to suggest healthier ways of eating, sleeping and exercising

B to describe how modern life has made chronobiology largely irrelevant

C to introduce chronobiology and describe some practical applications

D to plan a daily schedule that can alter our natural chronobiological rhythms

READING PASSAGE 2

The Triune1 Brain

The first of our three brains to evolve is what scientists call the reptilian cortex. This brain sustains the elementary activities of animal survival such as respiration, adequate rest and a beating heart. We are not required to consciously “think” about these activities. The reptilian cortex also houses the “startle centre”, a mechanism that facilitates swift reactions to unexpected occurrences in our surroundings. That panicked lurch you experience when a door slams shut somewhere in the house, or the heightened awareness you feel when a twig cracks in a nearby bush while out on an evening stroll are both examples of the reptilian cortex at work. When it comes to our interaction with others, the reptilian brain offers up only the most basic impulses: aggression, mating, and territorial defence. There is no great difference, in this sense, between a crocodile defending its spot along the river and a turf war between two urban gangs.

Although the lizard may stake a claim to its habitat, it exerts total indifference toward the well-being of its young. Listen to the anguished squeal of a dolphin separated from its pod or witness the sight of elephants mourning their dead, however, and it is clear that a new development is at play. Scientists have identified this as the limbic cortex. Unique to mammals, the limbic cortex impels creatures to nurture their offspring by delivering feelings of tenderness and warmth to the parent when children are nearby. These same sensations also cause mammals to develop various types of social relations and kinship networks. When we are with others of “our kind” – be it at soccer practice, church, school or a nightclub – we experience positive sensations of togetherness, solidarity and comfort. If we spend too long away from these networks, then loneliness sets in and encourages us to seek companionship.

Only human capabilities extend far beyond the scope of these two cortexes. Humans eat, sleep and play, but we also speak, plot, rationalise and debate finer points of morality. Our unique abilities are the result of an expansive third brain – the neocortex – which engages with logic, reason and ideas. The power of the neocortex comes from its ability to think beyond the present, concrete moment. While other mammals are mainly restricted to impulsive actions (although some, such as apes, can learn and remember simple lessons), humans can think about the “big picture”. We can string together simple lessons (for example, an apple drops downwards from a tree; hurting others causes unhappiness) to develop complex theories of physical or social phenomena (such as thelaws of gravity and a concern for human rights).

The neocortex is also responsible for the process by which we decide on and commit to particular courses of action. Strung together over time, these choices can accumulate into feats of progress unknown to other animals. Anticipating a better grade on the following morning’s exam, a student can ignore the limbic urge to socialise and go to sleep early instead. Over three years, this ongoing sacrifice translates into a first class degree and a scholarship to graduate school; over a lifetime, it can mean groundbreaking contributions to human knowledge and development. The ability to sacrifice our drive for immediate satisfaction in order to benefit later is a product of the neocortex.

Understanding the triune brain can help us appreciate the different natures of brain damage and psychological disorders. The most devastating form of brain damage, for example, is a condition in which someone is understood to be brain dead. In this state a person appears merely unconscious – sleeping, perhaps – but this is illusory. Here, the reptilian brain is functioning on autopilot despite the permanent loss of other cortexes.

Disturbances to the limbic cortex are registered in a different manner. Pups with limbic damage can move around and feed themselves well enough but do not register the presence of their littermates. Scientists have observed how, after a limbic lobotomy2, “one impaired monkey stepped on his outraged peers as if treading on a log or a rock”. In our own species, limbic damage is closely related to sociopathic behaviour. Sociopaths in possession of fully-functioning neocortexes are often shrewd and emotionally intelligent people but lack any ability to relate to, empathise with or express concern for others.

One of the neurological wonders of history occurred when a railway worker named Phineas Gage survived an incident during which a metal rod skewered his skull, taking a considerable amount of his neocortex with it. Though Gage continued to live and work as before, his fellow employees observed a shift in the equilibrium of his personality. Gage’s animal propensities were now sharply pronounced while his intellectual abilities suffered; garrulous or obscene jokes replaced his once quick wit. New findings suggest, however, that Gage managed to soften these abrupt changes over time and rediscover an appropriate social manner. This would indicate that reparative therapy has the potential to help patients with advanced brain trauma to gain an improved quality of life.

__________________________________________
1 Triune = three-in-one
2 Lobotomy = surgical cutting of brain nerves

Questions 14–22
Classify the following as typical of
A. the reptilian cortex
B. the limbic cortex
C. the neocortex

Write the correct letter, A, B or C, in boxes 14–22 on your answer sheet.
14. giving up short-term happiness for future gains
15. maintaining the bodily functions necessary for life
16. experiencing the pain of losing another
17. forming communities and social groups
18. making a decision and carrying it out
19. guarding areas of land
20. developing explanations for things
21. looking after one’s young
22. responding quickly to sudden movement and noise

Questions 23–26
Complete the sentences below.
Write NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.
Write your answers in boxes 23–26 on your answer sheet.

23. A person with only a functioning reptilian cortex is known as ………………….
24. ………………… in humans is associated with limbic disruption.
25. An industrial accident caused Phineas Gage to lose part of his ………………….
26. After his accident, co-workers noticed an imbalance between Gage’s ………………… and higher-order thinking.

BÀI READING 3

HELIUM'S FUTURE UP IN THE AIR

A) In recent years we have all been exposed to dire media reports concerning the impending demise of global coal and oil reserves, but the depletion of another key non-renewable resource continues without receiving much press at all. Helium – an inert, odourless, monatomic element known to lay people as the substance that makes balloons float and voices squeak when inhaled – could be gone from this planet within a generation.

B) Helium itself is not rare; there is actually a plentiful supply of it in the cosmos. In fact, 24 per cent of our galaxy’s elemental mass consists of helium, which makes it the second most abundant element in our universe. Because of its lightness, however, most helium vanished from our own planet many years ago. Consequently, only a miniscule proportion – 0.00052%, to be exact – remains in earth’s atmosphere. Helium is the by-product of millennia of radioactive decay from the elements thorium and uranium. The helium is mostly trapped in subterranean natural gas bunkers and commercially extracted through a method known as fractional distillation.

C) The loss of helium on Earth would affect society greatly. Defying the perception of it as a novelty substance for parties and gimmicks, the element actually has many vital applications in society. Probably the most well known commercial usage is in airships and blimps (non-flammable helium replaced hydrogen as the lifting gas du jour after the Hindenburg catastrophe in 1932, during which an airship burst into flames and crashed to the ground killing some passengers and crew). But helium is also instrumental in deep-sea diving, where it is blended with nitrogen to mitigate the dangers of inhaling ordinary air under high pressure; as a cleaning agent for rocket engines; and, in its most prevalent use, as a coolant for superconducting magnets in hospital MRI (magnetic resonance imaging) scanners.

D) The possibility of losing helium forever poses the threat of a real crisis because its unique qualities are extraordinarily difficult, if not impossible to duplicate (certainly, no biosynthetic ersatz product is close to approaching the point of feasibility for helium, even as similar developments continue apace for oil and coal). Helium is even cheerfully derided as a “loner” element since it does not adhere to other molecules like its cousin, hydrogen. According to Dr. Lee Sobotka, helium is the “most noble of gases, meaning it’s very stable and non-reactive for the most part … it has a closed electronic configuration, a very tightly bound atom. It is this coveting of its own electrons that prevents combination with other elements’. Another important attribute is helium’s unique boiling point, which is lower than that for any other element. The worsening global shortage could render millions of dollars of high-value, life-saving equipment totally useless. The dwindling supplies have already resulted in the postponement of research and development projects in physics laboratories and manufacturing plants around the world. There is an enormous supply and demand imbalance partly brought about by the expansion of high-tech manufacturing in Asia.

E) The source of the problem is the Helium Privatisation Act (HPA), an American law passed in 1996 that requires the U.S. National Helium Reserve to liquidate its helium assets by 2015 regardless of the market price. Although intended to settle the original cost of the reserve by a U.S. Congress ignorant of its ramifications, the result of this fire sale is that global helium prices are so artificially deflated that few can be bothered recycling the substance or using it judiciously. Deflated values also mean that natural gas extractors see no reason to capture helium. Much is lost in the process of extraction. As Sobotka notes: "[t]he government had the good vision to store helium, and the question now is: Will the corporations have the vision to capture it when extracting natural gas, and consumers the wisdom to recycle? This takes long-term vision because present market forces are not sufficient to compel prudent practice”. For Nobel-prize laureate Robert Richardson, the U.S. government must be prevailed upon to repeal its privatisation policy as the country supplies over 80 per cent of global helium, mostly from the National Helium Reserve. For Richardson, a twenty- to fifty-fold increase in prices would provide incentives to recycle.

F) A number of steps need to be taken in order to avert a costly predicament in the coming decades. Firstly, all existing supplies of helium ought to be conserved and released only by permit, with medical uses receiving precedence over other commercial or recreational demands. Secondly, conservation should be obligatory and enforced by a regulatory agency. At the moment some users, such as hospitals, tend to recycle diligently while others, such as NASA, squander massive amounts of helium. Lastly, research into alternatives to helium must begin in earnest.

QUESTIONS 27 - 31


Reading passage 3 has six paragraphs, A–F.
Which paragraph contains the following information?
 

27.a use for helium which makes an activity safer 

28.the possibility of creating an alternative to helium

29.a term which describes the process of how helium is taken out of the ground 

30.a reason why users of helium do not make efforts to conserve it

31.a contrast between helium’s chemical properties and how non-scientists think about it

QUESTIONS 32 - 35


Do the following statements agree with the claims of the writer in Reading passage 3?
Answer Yes, No or Not given to questions 32-35.

32) Helium chooses to be on its own.
33) Helium is a very cold substance.
34) High-tech industries in Asia use more helium than laboratories and manufacturers in other parts of the world.
35) The US Congress understood the possible consequences of the HPA.

QUESTIONS 36 - 40

Complete the summary below.
Choose no more than two words from the passage for each answer.

Sobotka argues that big business and users of helium need to help look after helium stocks because (36) will not be encouraged through buying and selling alone. Richardson believes that the (37) needs to be withdrawn, as the U.S. provides most of the world’s helium. He argues that higher costs would mean people have (38) to use the resource many times over. People should need a (39) to access helium that we still have. Furthermore, a (40) should ensure that helium is used carefully.

II. 4 ĐỀ THI THẬT IELTS READING

Các khóa học IELTS online 1 kèm 1 - 100% cam kết đạt target 6.0 - 7.0 - 8.0 - Đảm bảo đầu ra - Thi không đạt, học lại FREE

>> IELTS Intensive Writing - Sửa bài chi tiết

>> IELTS Intensive Listening

>> IELTS Intensive Reading

>> IELTS Intensive Speaking

All Posts
×

Almost done…

We just sent you an email. Please click the link in the email to confirm your subscription!

OK